Giáo dụcVăn mẫu

Top 6 bài văn cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính lớp 9 mới nhất

Hướng dẫn làm bài văn Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính dưới đây chắc chắn là một cuốn cẩm nang hữu ích cho các em. Từ đây các em có thể biết được cách viết một vấn đề, đi sâu vào vấn đề sao cho phù hợp. Hãy cùng tham khảo các bài viết dưới đây.

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính được đánh giá là một trong những bài có trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Từ các bài văn mẫu dưới đây các bạn có thể tham khảo cho mình được một bài văn hoàn chỉnh và sâu sắc nhất cho mình nhé!

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 1

Nhắc đến nhà thơ Phạm Tiến Duật người ta nhắc đến đây chính là gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước. Khi đọc thơ ông người đọc dễ dàng nhận thấy được thơ có giọng điệu vô cùng sôi nổi, trẻ trung và thật hồn nhiên. Thơ Phạm Tiến Duật có gì đó thật trẻ trung, thật tinh nghịch mà cũng không kém phần sâu sắc đến lạ. Thơ của ông viết nhiều về thế hệ trẻ Việt Nam trên tuyến được Trường sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.

Không thể phủ nhận được với thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính: được Phạm Tiến Duật viết năm 1969, vào thời điểm này đó chính là khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt và hiểm nguy. Tác giả đã sáng tác ra bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp người lính lái xe Trường Sơn được khắc họa vô cùng dũng cảm, hiên, lạc quan, thêm với đó là sự giàu ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước ta. Mặc dù phải ngồi trên xe không kính vì chiến tranh ác liệt, của mưa bom, bão đạn thế nhưng người lính vẫn vượt qua tất cả và hiên ngang đến lạ thường.

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Phạm Tiến Duật sử dụng từ láy “ung dung” như cũng đã được đảo lên đầu câu thơ đã làm nổi bật tư thế hiên ngang của người lính lái xe thật anh hùng trong trận mạc khiến chúng ta vô cùng khâm phục. Tác giả thật tài tình khi không dừng lại ở đó mà sử dụng điệp từ “nhìn” cũng được sử dụng kết hợp với nhịp thơ 2/2/2 đã mở rộng ra được một không gian đất trời để nhấn mạnh cái nhìn trực diện không đổi. Người lính lúc này đây không hề run sợ trước khó khăn, gian khổ cho dù nó ầm ập bủa vây và kéo đến. Có thể nói rằng cũng chính điều đó thể hiện một bản lĩnh vững vàng của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.

Người lính với tư thế ung dung đó thì lại có được biết bao nhiêu cảm nhận riêng khi được tiếp xúc với không gian bên ngoài một cách trực tiếp nhất:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái”

Hình ảnh chiếc xe không kính nên giữa người lính lái xe và không gian bên ngoài không hề có sự ngăn cách với nhau một điều gì. Thông qua đây người đọc cũng nhận thấy được tác giả Phạm Tiến Duật cũng đã diễn tả một cách cụ thể ấn tượng những cảm giác sống động của người lính lái xe Trường Sơn. Đó là những hình ảnh của gió, con đường, sao trời, có cánh chim,… thực sự lúc này đây tất cả như giao hòa cùng con người vậy. Chiếc xe dường như cứ băng băng tiến về phía trước, con đường giải phóng miền Nam như chạy thẳng vào tim của người lính. Tác giả sử dụng những hình ảnh so sánh kết hợp cùng phép điệp ngữ cũng rất độc đáo và ấn tượng biết bao nhiêu: nhìn thấy, thấy, như sa, như ùa tất cả không chỉ thể hiện những cảm giác thú vị mà còn gợi cả tốc độ phi thường của đoàn xe quân sự trên con đường huyền thoại – Trường Sơn vô cùng ác liệt.

Hình ảnh những người lính lái xe còn có có tinh thần lạc quan, bất chấp gian khổ, khó khăn nhưng cũng sẽ cố gắng vượt qua tất cả:

“Không có kính ừ thì ướt áo

Bụi phun tóc trắng như người già”

Trên tuyến đường Trường Sơn đất lẫn sỏi đá, thì bom đạn giặc Mĩ cày xới, mùa mưa thì lầy lội, cho đến mùa khô thì bụi mịt mù. Phạm Tiến Duật sử dụng rất đắt động từ “phun” đã đặc tả mức độ bụi đường nó ghê sợ như thế nào. Khi đứng trước khó khăn, gian khổ thì lúc này đây hình ảnh người lính đón nhận một cách thản nhiên tất cả đó là không có kính kéo theo có bụi. Bao nhiêu khó khăn cứ chất chồng lên và cuối cùng họ vẫn vượt qua tất cả, cho dù mặt có lấm họ nhìn nhau hài hước và cười ha ha.

“Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời”

Hình ảnh chiếc xe không kính nên trong buồng lái cũng như ngồi ngoài trời ướt áo. Thế nhưng đối với hình ảnh của người lính đón nhận khó khăn ấy một cách thản nhiên bởi “không có kính ừ thì ướt áo” thì người lính cũng chưa cần thay lái trăm cây số nữa để khi gió lùa thì cũng mau khô thôi.

Phạm Tiến Duật nói về những người lính lái xe còn có tình đồng đội keo sơn, gắn bó. Đi trên con đường tiến về giải phóng miền Nam phía trước cho dân tộc, có thể nói đây chính là con đường chính nghĩa, họ càng đi càng có thêm nhiều bạn bè và họ đã trở thành “Đồng chí”. Với tình đồng đội được thể hiện thật cảm động qua chi tiết độc đáo mà tác giả cũng đã mô tả lại đó là:

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

Chiếc xe không kính nên người lính bắt tay nhau một cách tự nhiên, thoải mái mà không cần mở cửa. Chính họ cũng đã bắt tay nhau để thể hiện sự an tâm về đồng đội, không thể phủ nhận được rằng cũng chính với cái bắt tay ấy như truyền cho nhau sức mạnh, những người lính truyền cho nhau nghị lực, niềm tin để cùng nhau chắc tay lái mà tiến về giải phóng miền Nam phía trước. Hình ảnh với những bữa cơm đạm bạc đã giúp họ thắp lửa thêm tình đồng đội yêu thương đến lạ kỳ.

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”

Đó là một bữa cơm đơn sơ đến giản dị, thế nhưng lại đượm tình đồng chí giúp họ mạnh mẽ vượt lên khó khăn gian khổ, tiến về giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhân dân được ấm no. Người lính lái xe chiến đấu với một trái tim nhiệt huyết:

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Sử dụng điệp từ “không” kết hợp với phép liệt kê đó là hình ảnh kính, đèn, mui xe, thùng xe,… cũng góp phần tô đậm một cách chân thực tới mức trần trụi hình ảnh những chiếc xe bị bom Mĩ lúc này đây cũng đã bị phá hủy đến toàn bộ. Trên chiếc xe này mọi thứ không còn nguyên vẹn thế nhưng xe vẫn cứ chạy và tiến lên vì chỉ cần trong xe có một trái tim. Trái tim thể hiện tình yêu thương của người lính đối với đất nước. Phạm Tiến Duật sử dụng hình ảnh hoán dụ để có thể miêu tả về hình ảnh người lính lái xe luôn hiên ngang về phía trước luôn luôn giàu ý chí chiến đấu.

hưng mọi thứ của xe có thể không có, không còn nguyên vẹn, song chỉ cần vẹn nguyên “một trái tim” thì xe vẫn chạy băng băng về phía trước mà không bom đạn nào ngăn cản được. “Trái tim” là hình ảnh hoán dụ chỉ về hình ảnh người lính lái

Một thi phẩm cũng đã khắc họa hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn qua những nét nghệ thuật đặc sắc và sự tài năng của tác giả Phạm Tiến Duật. Bài thơ còn góp phần làm nổi bật nên vẻ đẹp độc đáo về hình ảnh người lính trẻ trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta.

Cảm nghĩ về hình ảnh người lính

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 2

Nếu trong bài thơ “Tây Tiến” nhà thơ Quang Dũng khắc tạc hình tượng người lính hào hùng, hào hoa và bi tráng thì nhà thơ Phạm Tiến Duật lại đậm tô vẻ đẹp ngang tàng mà anh dũng của những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.

Ta bắt gặp ở những anh lính trong tiểu đội lái xe có một tinh thần lạc quan phi thường. Các anh hóm hỉnh khi lý giải nguyên nhân chiếc xe của mình không có kính:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

  Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Bằng kết cấu câu phủ định liên tiếp “không có, không phải, không có” đưa đến một khẳng định, đoàn xe được trang bị đầy đủ quân khí, đoàn xe cùng các anh trải qua bao trận mưa bom bão đạn của kẻ thù. Sức công phá, sự hủy diệt dữ dội của quân thù được thể hiện qua điệp từ “bom”- thứ khí giới hiện đại làm vỡ tan từng mảnh kính. Thái độ bất cần “vỡ đi rồi” và tư thế hiên ngang của các anh không hề mảy may bận tâm tới những thiếu thốn đó:

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Biện pháp đảo ngữ đưa tính từ “ung dung” lên đầu câu nhấn mạnh vẻ điềm nhiên của anh bộ đội cụ Hồ cùng với điệp ngữ “nhìn” , những không gian rộng lớn mở ra trước mắt người lính. Đó có thể là những khó khăn nhưng ánh nhìn “thẳng” vửa ngạo nghễ vừa kiêu hùng như thách thức mọi khó khăn. Winton Churchill từng nói: “A pessimist sees the difficult in every opportunity; an optimist sees the opportunity in every difficulty” ( Người bi quan nhìn thấy khó khăn trong cơ hội, người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong khó khăn). Thật vậy, Niềm lạc quan giúp người lính trong tiểu đội xe không kính tìm thấy những thuận lợi từ những nguy khó trước mắt:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái”

Với vẻ điềm tĩnh và giọng điệu hài hước, những chiếc xe không kính không còn là trở ngại mà nó trở thành phương tiện hữu dụng giúp các anh giao hòa với thiên nhiên: gió, sao trời, chim. Làn gió lùa vào buồng lái làm xoa dịu đôi mắt đắng, mỏi vì những đêm thúc trắng điều khiển tay lái. Trong tâm hồn mạnh mẽ, đầy bản lĩnh của tuổi trẻ các anh coi thường những thử thách để thép thực sự được tôi luyện:

“Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi”

Có lẽ không gì khắc nghiệt hơn thời tiết ở tuyến đường Trường Sơn. Những ngày nắng cháy da cháy thịt, bụi mù con đường đất đỏ, ngày mưa xối xả như đổ thác làm rát mặt. Những người lính của chúng ta đối diện với chúng khi “không có kính”, nhưng không một lời oán trách, các anh chấp nhận nó như một lẽ tự nhiên trong đời lính qua điệp ngữ “ừ thì”. Tiếng cười giòn tan “ha ha” vang lên khắc họa vẻ ngang tàng đã vượt lên trên hoàn cảnh để làm chủ hoàn cảnh.

Những người lính lái xe thắt chặt tình cảm đông đội với những cái bắt tay thân ái, đầy tin cậy qua ô cửa kính vỡ. Tình cảm đồng đội gắn bó keo sơn như máu thịt như một gia đình khiến ta không khỏi cảm động:

“Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”

Nghĩa cử bình dị “chung bát đũa” nhưng ở đó những người lính cùng san sẻ bát cơm manh áo, họ cùng chung chí hướng với quyết tâm rực cháy:

“Lại đi, lại đi trời xanh thêm”

Bầu trời hòa bình đón đợi các anh đó là động lực dồi dào của nghị lực, là sợi dây bền chặt để tình đồng đội thêm khăng khít.

Nhà thơ đậm tô hình ảnh người lính dũng cảm cùng niềm tin mãnh liệt. Trước vô vàn những mất mát từng đoàn xe vẫn không lùi bước tiến về miền Nam để giải phóng, thống nhất đất nước:

“Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Thiếu thốn chồng chất với điệp từ “không” và phép liệt kê một loạt bộ phận: kính, đèn… nhưng cân bằng tất cả chỉ “có một trái tim”. Hình ảnh hoán dụ chỉ cội nguồn của sức mạnh chính là lòng yêu nước sâu nặng, biểu tượng đẹp đẽ sự can trường mà không kém một chút “ngông” trong đó.

Qua hình ảnh độc đáo những chiếc xe không kính, bài thơ khắc tạc bức tượng đài người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn đầy khói lửa vẻ đẹp ngang tàng với ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam sắt đá, tinh thần lạc quan và tình đồng đội gắn kết.

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 3

Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông có giọng điệu hóm hỉnh, ngang tàn. Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là bài thơ tiêu biểu cho giọng thơ ấy của ông, được sáng tác năm 1969. Đặc biệt để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc là hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt, mang vẻ đẹp tinh nghịch, lạc quan, yêu đời, yêu dân tộc và một trái tim nhiệt huyết.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã giới thiệu hoàn cảnh chiến đấu khó khăn, ác liệt mà người chiến sĩ phải ngày ngày trải qua, đối mặt:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng”.

Rõ ràng là xe chiến đấu phải được trang bị cẩn trọng, kĩ lượng nhưng những chiếc xe của người lính Trường Sơn lại bị thiệt hại nghiêm trọng, hỏng hóc đến tàn tạ. nhưng cũng chính những chiếc xe ấy đã cho ta thấy được sự ác liệt và sức phá hủy khủng khiếp của chiến tranh, nhưng trên chiếc xe ấy, các chiến sĩ của xe không kính vẫn hiên ngang, ngang tàn thậm chí có chút tinh nghịch, yêu đời. Hai từ “ung dung”, điệp từ “nhìn” được lặp lại 3 lần càng cho thấy được thái độ thản nhiên, bình thản trước khó khăn như một điều tất yếu của người chiến sĩ, thay vào đó họ ung dung, tự tại hòa mình vào hoàn cảnh, vượt lên trên hoàn cảnh, không để khó khăn chế ngự. tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ cho thấy sự chủ động, tự tin, bình tĩnh trong không khí căng thẳng “bom giật, bom rung”. Chỉ có thể là người chiến sĩ với kinh nghiệm chiến đấu đay dặn, từng trải mới có được thái độ, tư thế ấy. Những thử thách tiếp tục ập tới một cách trực tiếp, mạnh mẽ hơn những người chiến sĩ lại lấy chính khó khăn ấy làm niềm lạc quan, tin tưởng, yêu đời và hóm hỉnh đùa nghịch:

“Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Không cầy thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi.

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi.”

Câu thơ vút lên tràn đầy niềm lạc quan, sôi nổi như cái sôi nổi rất mới, rất trẻ của tuổi 20. Những tiếng “ừ thì” vang lên liên tiếp như một sự thách thức, một thái độ cứng cỏi. Dường như những gian khổ, nguy hiểm của chiến tranh không mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ mà lại như một dịp để họ thử sức mình. Vậy là một lần nữa người chiến sĩ trong thơ lại hiện lên vẻ đẹp trẻ trung, sôi nổi, tinh nghịch, yêu đời và tinh thần lạc quan của tuổi trẻ. Nhưng đó đâu phải là vẻ đẹp duy nhất, trên hành trình dưới mưa bom lửa đạn của tuyến đường Trường Sơn ác liệt thì họ đã coi nhau như anh em ruột thịt, như người nhà, gắn bó với bếp Hoàng Cầm để cùng chia nhau những bát cơm chan chứa yêu thương “chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy”. Vâng, những chiếc xe từ trong bom rơi, đã về đây họp thành tiểu đội, gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới, bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi. Những cái bắt tay ấy ta cũng đã gặp trong “Đồng Chí” để sưởi ấm cho nhau trong những đêm đông lạnh gái, còn ở đây cái bắt tay này thể hiện sự đoàn kết, gắn bó , tinh thần lạc quan vượt lên trên những hỏng hóc, đổ nát của chiến tranh. Để rồi càng về cuối, vẻ đẹp của những người chiến sĩ càng thêm rõ nét:

“không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Đoàn xe đã chiến thắng bom đạn của kẻ thù, hăm hở tiến ra phía trước với một tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”. Vậy là vì tình yêu thương đồng bào, đồng chí đau khổ đã khích lệ người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn, nguy hiểm để luôn bình tĩnh, lạc quan, nắm chắc tay lái nhìn thật đúng hướng để xe khẩn trương tới đích. Và đơn giản, chỉ đơn giản rằng: chỉ cần trong xe có một trái tim. Trong bao nhiêu cái không vô tình ở phía trên bỗng nổi bật lên cái có mãnh liệt của “trái tim” nhiệt thành, gan góc, kiên cường giàu bản lĩnh của người chiến sĩ lái xe. Câu thơ vang lên nhẹ nhàng như lời khẳng định chắc nịch, gan dạ của những trái tim yêu nước cháy bỏng. thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, kết đọng lại ở cái “trái tim” này, trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí sắt đá niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc. Như thế chiếc xe vận tải ngộ nghĩnh, độc đáo không phải chỉ chạy bằng xăng dầu mà nó còn chạy bằng ý chí sắt đá, bằng quyết tâm cao độ, bằng lí tưởng và vẻ đẹp chói ngời. Phải chăng chính “trái tim” của người chiến sĩ đã cầm lái.

Như vậy bằng cách vận dụng nhuần nhuyễn các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và những từ láy biểu cảm, Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh người chiến sĩ cách mạng dũng cảm, gan dạ, lạc quan, và mang vẻ đẹp hóm hỉnh yêu đời của tuổi trẻ. Những vẻ đẹp của những trái tim yêu nước ấy sẽ mãi là vầng sáng trong suốt chặng đường kháng chiến, trong suốt những trang hoa, tờ hoa về người chiến sĩ cách mạng.

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 4

Thông qua hình ảnh của những người lính lái xe trong bài thơ bìa thơ về tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật, ta có cái nhìn toàn diện về vẻ đẹp không chỉ của những người lính mà của thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

Trước hết, đó chính là những con người có tình yêu nước sâu sắc, là những con người có ý thức về việc đấu tranh, giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Họ vốn là những người trẻ ở độ tuổi đôi mươi, độ tuổi đẹp nhất của đời người nhưng họ đã sẵn sàng dâng hiến cả tuổi xuân, cả mạng sống của mình vì lí tưởng thiêng liêng: giải phóng dân tộc,mang lại tự do cho đất nước. Đó là những con người trẻ tuổi đầy sức sống, đầy lạc quan, chủ động. Trước những khó khăn, gian khổ của chiến tranh những người lính không đầu hàng mà vượt qua nó bằng sức mạnh của tuổi trẻ, sức mạnh của lí tưởng cao đẹp. Họ nhìn về những khó khăn đầy lạc quan, hài hước. Là những con người có lòng sục sôi đấu tranh cùng sự kiên định vì mục tiêu giải phóng miền Nam phía trước. Bom đạn của kẻ thù chỉ có thể tạo ra những trở ngại,mất mát về vật chất nhưng không thể phá hủy được tinh thân quyết tâm, trái tim đầy sục sôi của thế hệ trẻ của một dân tộc anh hùng:

“Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mùi rồi thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Hình tượng những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và những người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính đều là những con người kiên cường, quả cảm, họ đều đấu tranh hết mình cho lí tưởng giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của thực dân phong kiến. Nhưng điểm khác ở đây chính là những người lính lái xe có thêm sự chủ động làm chủ tình hình. Bởi lúc này cách mạng của ta đã trưởng thành sau chín năm kháng chiến chống Pháp, bộ đội và cách mạng của ta vẫn đang làm chủ được tình thế.

Loading...

Thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ qua hình ảnh người lính trong bài thơ là những con người hiên ngang dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm, luôn tiến lên phía trước vì mục đích và lý tưởng cao đẹp. Đồng thời những người chiến sĩ ấy còn là những con người trẻ trung tinh nghịch, hóm hỉnh, yêu đời, dù đứng trước nhiều hiểm nguy, khó khăn. Họ đã để lại cho chúng ta ấn tượng đẹp về anh bộ đội cụ Hồ.

So sánh với hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí, ta thấy họ đều toát lên vẻ đẹp của những người lính. Khi Tổ quốc cần, họ sẵn sàng ra trận chiến đấu. Ở họ là lòng dũng cảm, gạn dạ, tình yêu quê hương, đất nước, tình đồng chí đồng đội gắn bó.

Điểm khác nhau là trong bài thơ Tiểu đội xe không kính, ta thấy được sự vui tươi, hóm hỉnh, sôi nổi của những người lính trẻ. Một tinh thần lạc quan cách mạng của người lính thời đại kháng chiến chống Mĩ.

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc ta là một bản anh hùng ca bất diệt . Trong những tháng năm sục sôi khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy nhân dân Miền Bắc đã không tiếc sức người, sức của chi viện cho Miền Nam ruột thịt. Trong những đoàn quân điệp trùng nối nhau ra trận có chàng trai trẻ Phạm Tiến Duật . Anh được tôi luyện và trưởng thành trong chiến tranh và trở thành nhà thơ chiến sỹ. Thơ anh không cuốn hút người đọc bằng ngôn từ mượt mà, âm điệu du dương mà nó khiến người đọc say bằng chính sự tự nhiên, sống động, gân guốc, độc đáo và đậm chất lính tráng. “Bài thơ về tiểu đôi xe không kính” là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ đó .

Xuyên suốt bài thơ là hai hình ảnh trung tâm: những chiếc xe và những người chiến sĩ lái xe. Những chiếc xe không kính và nguyên nhân của nó được giới thiệu bằng lời thơ tự nhiên, mộc mạc như một lời phân bua mà có lẽ trước tác giả chưa ai khám phá ra chất thơ bộc lộ ngay trong vẻ tự nhiên của ngôn từ :

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi .

Cách lý giải đơn giản, ngộ nghĩnh tạo thú vị cho người đọc. Cảm hứng thơ bắt đầu từ hiện thực ác liệt nơi chiến trường với “bom giật, bom rung ” giúp ta hình dung sự tàn phá của đạn bom trên những nẻo Trường Sơn năm ấy vô cùng dữ dội. Song thiếu đi những phương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ sở để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp và sức mạnh tinh thần lớn lao của họ :

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất ,nhìn trời ,nhìn thẳng.

Trên những chiếc xe không kính, dưới làn bom đạn của kẻ thù, an toàn của các anh khó mà bảo đảm . Vậy mà thái độ của các anh bình thản tự tin đến không ngờ. Trong tư thế ung dung , trong cái nhìn bao quát cả đất trời còn có cả niềm kiêu hãnh của người làm chủ hoàn cảnh, tự hào ngắm nhìn đón nhận thiên nhiên. Nhịp thơ cân xứng, ý thơ trôi chảy, lời thơ nhẹ nhàng như diễn tả hình ảnh những đoàn xe lăn bánh trên những nẻo đường ra trận . Cái vất vả, gian khổ hiểm nguy được miêu tả bằng những hình ảnh giản dị trung thực đến từng chi tiết:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái .

Xe không kính, gió lùa mạnh vào cabin, người lái xe không chỉ cảm thấy mà còn nhìn thấy “gió vào xoa mắt đắng ”. Cử chỉ quá đỗi trìu mến, dịu dàng và thân thiện ấy của gió làm đắng những đôi mắt cay xè vì thiếu ngủ . Và hơn thế nữa, nắng mưa gió bụi của Trường Sơn đã trở thành những bạn đồng hành :

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già .

…Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa phun mưa xối như ngoài trời .

Điệp từ “ừ thì” , “chưa cần”, hình ảnh “phì phèo châm điếu thuốc ”, giọng “cười haha” hào sảng làm tôn lên chất bình dị mà anh hùng của những chàng trai trẻ biết biến cái vất vả gian nan thành phút giây thư giãn thoải mái . Qua đó làm sáng lên tinh thần cứng cỏi đầy nghị lực và bất chấp gian khó của những người biết vượt lên hoàn cảnh để làm chủ hoàn cảnh. Có lẽ ai đã từng đến Trường sơn mới thấu hết cái gian nan của người cầm lái. Đường Trường Sơn gập ghềnh, mưa Trường Sơn như trút nước, mùa khô xe chạy bụi mù trời. Bom đạn của quân thù không làm các anh chùn bước thì gió, bụi ,mưa sa của thiên nhiên khắc nghiệt nào có đáng kể chi. Trên những chiếc xe không kính ,tâm trạng người chiến sĩ lái xe vẫn phơi phới thênh thang:

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi .

Lạ lùng thay ,như một khám phá bất chợt của nhà thơ, sự hiểm nguy của những chiếc xe không kính lại trở thành sự tiện lợi bất ngờ khi các chàng lính gặp nhau, bởi họ có thể không cần phải xuống xe mà vẫn có thể bắt tay nhau thể hiện tình thân ái. Công việc vất vả, hiểm nguy nhưng phút nghỉ ngơi của những người lính lại vô cùng giản dị :

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Cuộc sống dẫu giản dị, xuềnh xoàng nhưng ấm áp tình cảm. Những người lính không chỉ là đồng chí, đồng đội của nhau mà họ còn là những người cùng trong một gia đình . Bởi vậy sau những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi họ lại tiếp tục công việc của mình với niềm tin mãnh liệt vào ngày mai chiến thắng . Chỉ có điều càng gần đến phương Nam những chiếc xe ngày càng hư hỏng :

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Khi tứ xe “không kính” được gói lại thì những con số không khác lại mở ra : “không đèn”,“không mui”, chỉ một thứ duy nhất có thêm nhưng lại là “có xước”. Như vậy cả “không có” và “có ”đều là tổn thất , đều là hư hại. Điệp ngữ “không có” được nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần những thử thách khốc liệt của chiến tranh , hoàn thiện dung mạo trụi trần đến kinh ngạc của chiếc xe vận tải. Vượt dãy Trường Sơn, đi qua đạn bom khói lửa của kẻ thù, mang trên mình đầy thương tích những chiếc xe như một dũng sĩ kiên cường . Kì lạ thay :

Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

“Trái tim” là một hoán dụ chỉ người chiến sĩ lái xe yêu nước căm thù giặc sống trẻ trung , sôi nổi và lạc quan tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến . Câu thơ khép lại nhưng con mắt thơ thì mở ra . Ta chợt nhận ra người chiến sỹ lái xe là một phần không thể thiếu, là con mắt , là bộ não , là linh hồn của xe . Có trái tim chiếc xe thành một cơ thể sống , thành một khối thống nhất với người chiến sĩ . Ta hiểu vì sao cả đoàn xe có thể vượt qua dãy Trường Sơn khói lửa bởi cội nguồn sức mạnh của nó kết tụ lại cả trong trái tim gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa yêu thương. Có lẽ vì thế mà nhiều người cho rằng đây là hình ảnh trái tim cầm lái

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 5

Là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước, Phạm Tiến Duật đem đến cho người đọc sự vui tươi, hồn nhiên, tinh nghịch trong thơ ông. Bài thơ về tiểu đội xe không kính có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, dí dỏm làm nổi bật hình ảnh những anh chiến sĩ lái xe Trường Sơn ngang tàng, ung dung và lạc quan yêu đời.

Không như các nhà thơ khác, Phạm Tiến Duật đã thể hiện tính cách khác người của mình ngay ở hai câu thơ mở đầu. Không mĩ lệ hóa, không dùng hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ để so sánh, không trau chuốt, không bóng bẩy, hình ảnh chiếc xe trong thơ Phạm Tiến Duật rất trần trụi, bình dị, không nguyên vẹn:

Không có kính không phải vì xe không có kính.

Đơn giản là vì Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi nên xe không còn nguyên vẹn nữa. Thế nhưng, chiếc xe không kính ấy vẫn băng băng ra chiến trường.

Chiếc xe đầy tự tin, không hề lo sợ trước bom đạn khủng khiếp của giặc Mĩ. Khác với những gì trần trụi bên ngoài, đây là một chiếc xe dũng cảm, hiên ngang. Xe vẫn băng ra tiền tuyến trên những đoạn đường đầy hiểm nguy. Có khác chăng đó là hình tượng những anh chiến sĩ lái xe Trường Sơn. Vì xe không có kính nên các anh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài. Gió, sao trời, cánh chim, và cả bầu trời rộng cũng ùa vào buồng lái, hòa cùng nhịp thở nhộn nhịp của các anh:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Không có một sự ràng buộc hay rào cản nào ngăn cách các anh tiếp xúc với đất trời. Mà cả thiên nhiên cũng muốn hòa mình với khí thế ấy. Chính vì thế mà các anh có thể nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng một cách rất thoải mái, tự nhiên.

Không có kính thì điều kiện chiến đấu cũng thiếu thốn nhưng các anh vẫn yêu đời, vẫn tự tin vào chiến thắng. Các anh xem mọi trở ngại chỉ là dịp để thử thách bản thân:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau, mặt lấm, cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Điệp cấu trúc không có kính … ừ thì chưa cần thể hiện tính cách ngàng tàng, bất chấp tất cả khó khăn. Không có kính chắn bụi    thì đương nhiên phải có bụi bám lên tóc, nhưng các anh vẫn không lo, cứ để vậy mà nhìn nhau, mặt lấm, cười ha ha. Không có kính che mưa thì dĩ nhiên phải ướt áo, dù áo ướt nhưng các anh cũng mặc kệ, cứ để vậy mà lái tiếp bởi mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Các anh vẫn giữ cái tư thế ấy, hiên ngang mà sao yêu đời quá đi thôi! Dù có thiếu thốn, cực khổ đến đâu, các anh vẫn yêu thương, chia sẻ cho nhau tình yêu thương:

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Dường như trong chiến đấu gian khổ giúp chiến sĩ tôi rèn ý chí và giúp cho tình đồng đội của các anh thêm gắn bó, keo sơn. Dù vào sinh ra tử nhưng người lính vẫn hồn nhiên, vô tư và lạc quan tin tưởng. Chỉ một cái bắt tay qua khung kính vỡ rồi những cũng đủ gieo vào nhau những tình cảm tốt đẹp, các anh động viên nhau tiến bước quân hành. Tình cảm ấy đã làm các anh cảm thấy đầm ấm khi cùng chung tiểu đội:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Tiểu đội của các anh như một gia đình vui vẻ, hạnh phúc. Ở đó có vẻ đẹp của sự sum họp, chan hòa. Các anh có chung một điểm tựa, tâm hồn nên gia đình ở chiến trường của các anh đều cùng chung một nhiệm vụ thiêng liêng. Các anh luôn tin tưởng vào tương lai đang chờ đợi phía trước. Câu thơ lại đi, lại đi trời xanh thêm với năm thanh bằng và điệp ngữ lại đi đã tạo nên một âm điệu thanh thản, nhẹ nhàng.

Điều làm nên sự chiến thắng của các anh chính là lòng yêu nước, là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà:

Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cản trong xe có một trái tim.

Ở các anh có sự tương phản rõ rệt giữa vật chất và tinh thần, giữa bên ngoài và bên trong, giữa cái không có và cái có. Bom đạn kẻ thù đã làm cho xe không có rất nhiều. Không kính, không đèn, không mui nên chiếc xe đã trở nên trần trụi đến kì lạ, xe không còn nguyên vẹn… Nhưng một thứ rất cần mà các anh đã có, đó là trái tim yêu nước. Trái tim đầy nhiệt thành cách mạng, sẽ chiến thắng những thiếu thốn về vật chất. Trái tim yêu nước đã điều khiển chiếc xe không nguyên vẹn ấy băng về phía trước, nơi miền Nam ruột thịt. Sức mạnh để xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính.

Với chất liệu hiện thực độc đáo, bài thơ thể hiện hình ảnh hào hùng của chiếc xe không kính, qua đó khắc họa nổi bật hình ảnh cao quí của người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứa nước.

Qua bài thơ, ta càng thấy rõ phẩm chất của người lính Trường Sơn: mộc mạc, giản dị và vĩ đại. Chúng ta càng biết ơn các anh. Thế hệ trẻ Việt Nam nguyện tiếp bước các anh gìn giữ Tổ quốc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

Cảm nghĩ về người lính

Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính – Bài làm 6

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Đó là ý chí của những chiến sĩ Trường Sơn. Các anh hiện lên trên trang thơ thật dí dỏm, thật yêu đời. Khi gian khổ tưởng chừng không thể nào vượt qua được, khi cái chết tới gần. Vậy mà nụ cười lạc quan vẫn hiện hữu trên khuôn mặt các anh, nụ cười ấy rất ngang tàng và cũng đầy tinh nghịch. Nhắc tới họ, ta không thể quên người chiến sĩ lái xe không kính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, Không biết nhà thơ dã bao nhiêu lần trực tiếp lái chiếc xe như thế mà ông lại viết ra được những dòng thơ hết sức chân thực và sống động đến vậy:

Không kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Đó là lời giới thiệu của các anh, hết sức giản dị, rất thật. Trên chiếc xe không có kính đó người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng khốc liệt. Bom giật bom rung họ vẫn vững tay lái, nhấn ga cho xe băng băng lao ra chiến trận.

Chúng ta hãy lắng nghe các anh kết chuyện về mình với giọng điệu thật vui vẻ và hài hước:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Ung dung được đảo lêu đầu câu để nhấn mạnh tư thế bình tĩnh, đường hoàng, hiên ngang, tự tin khi họ phải lái một chiếc xe không kính. Nhìn thẳng là nhìn vào gian khổ, hi sinh không run sợ, không né tránh bởi họ chiến đấu vì chính nghĩa. Lái xe không kính, là gặp phải khó khăn nhưng những khó khăn lại thật bất ngờ:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ rất thực, thực đến từng chi tiết. Xe không có kính chắn gió lại chạy với tốc độ cao nên người lính lái xe phải đối mặt với bao nguy hiểm: gió xoa mắt đắng, con đường ngược lại chạy thẳng vào tim, sao trên trời, chim dưới đất bất ngờ như sa, như ùa, như rơi, rung, quăng, ném vào buồng lái. Những câu thơ chân thực, sống động, đầy ấn tượng như chính nhà thơ đang cầm vô lăng mà lái.

Bao khó khăn thử thách nhưng người lính lái xe vẫn không run sợ, hoảng hốt. Trái lại, tư thế của các anh rất hiên ngang, ung dung tự tại, tinh thần của các anh vẫn vững vàng. Bởi các anh vẫn quyết tâm vượt qua gian khổ, để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao.

Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc tráng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa.

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Nhà thơ lại tiếp tực khắc họa những khó khăn, gian khổ của những người lính lái xe. Những câu thơ như những lời nói thường ngày, không gắn liền với những tiếng nói bỗ bã, đầy chất lính ngang tàng song cũng rất đáng yêu như bật lên từ tình cảm thực của những người lính lái xe. Khó khăn là thế, và vẫn chấp nhận là tất yếu: ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo nhưng cũng với thái độ rất thản nhiên:

Chưa cần rửa  phì phèo châm điếu thuốc

 …Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

 Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Sự bình thản của những người lính lái xe đến vô tư. Câu thơ cân đối, nhịp nhàng theo độ rung của bánh xe lăn, các thanh bằng, trắc phối hợp linh hoạt, giọng thơ pha chút ngang tàng thường thấy ở người lái xe.

Hai khổ thơ làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe: dũng cảm, hiên ngang, phớt đời, bất chấp hiểm nguy trước biết bao thử thách. Họ đạp bằng gian khó tiến về phía trước với một quyết tâm: giải phóng miền Nam. Đúng là chiến tranh ác liệt có thể tàn phá những phương tiện kĩ thuật vật chất nhưng không thể đè bẹp được sức mạnh tinh thần của con người. Trái lại, aó chỉ càng làm nổi rõ thêm tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của họ mà thôi:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.

Trong hoàn cảnh ác liệt, những người lính lái xe có cùng một mục đích, cùng chung lí tưởng nên ở họ đã hình thành nên tình cảm đồng chí, đồng đội tốt đẹp, ấm cúng như trong một gia đình:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bút đĩa nghĩa là gia đình đấy

Hình ảnh những chiếc xe từ trong bom rơi đã gợi lên ý nghĩa về người lính lái xe gan góc vượt qua gian nan thử thách. Khi gặp nhau tình cảm giao lưu cua họ thật là đặc biệt:

…Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

để rồi:

Lại đi, lại đi trời thêm xanh.

Câu thơ có một cái gì đó thật lãng mạn và lạc quan:

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe không có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tỉm.

Xe bị bom đạn Mĩ làm cho biến dạng đến trơ trụi: không kính, không đèn, không mui… nhưng đoàn xe vẫn cứ chạy vì một mục đích cao cả: vì miền Nam ruột thịt, vì thống nhất nước nhà. Thì ra mọi cội nguồn tạo ra sức mạnh của đoàn xe được tích tụ lại ở trái tim gan góc, kiên cường giàu bán lĩnh nhưng chan chứa tình yêu thương ở người cầm lái. Chính tình yêu Tổ quôc, tình thương đồng bào đã khích lệ, động viên người lính lái xe đạp bằng gian khó, lạc quan, bình tĩnh, nắm chắc vô lăng, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe tới đích. Khổ thơ cho ta thấy chân lí của cuộc đời: sức mạnh không chỉ là vũ khí, là vậ chất mà chính là con người. Con người mang trái tim nồng cháy, yêu thương, có ý chí kiên cường chiến đấu là con người chiến thắng:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Câu thơ làm toả sáng hình tượng người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn, là linh hồn của cả bài thơ.

Bài thơ đã khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ lái xe thật đẹp, thật dí dỏm, thật lính. Đó là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ một thế hệ anh hùng, sống đẹp và giàu lí tưởng. Họ sẵn sáng làm bất cứ việc gì, đi bất cứ đâu mà Tổ quốc cần, trong gian khổ vẫn giữ vững một niềm tin, một niềm lạc quan tin tưởng vào chiến thắng. Đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

Hi vọng với những bài văn mẫu Cảm nghĩ về người lính trong Tiểu đội xe không kính trên cũng đã giúp cho các em có thêm nhiều bài học bổ ích. Hãy chia sẻ cho các bạn để hoàn thành tốt bài viết văn này nhé1

Minh Minh

Đánh giá bài viết

Trả lời

DMCA.com Protection Status